Người đồng tính tranh đấu với luật pháp Hoa Kỳ
Theo AP, bà Lingle đã đợi đến ngày chót là ngày bà phải đưa ra quyết định ký tên chấp thuận hay bác bỏ dự luật này. Bà tuyên bố: “Trong thời gian 8 năm làm thống đốc tại tiểu bang này, chưa có vấn đề nào mà tôi phải suy nghĩ kỹ càng sâu sắc như dự luật House Bill 444 và thể chế hôn nhân, và sau cùng tôi thấy dự luật này và hôn nhân đồng tính chỉ là một, nên tôi đã phản đối”.
Ký giả Herbert A. Sample của AP đã viết bài tường thuật như sau: Quyết định của nữ Thống đốc Linda Lingle phủ quyết dự luật kết hôn dân sự giữa các cặp đồng tính, đã gây ra dư luận đồn đãi rằng, có thể xảy ra một cuộc tẩy chay của giới đồng tính, đối với tiểu bang Hawaii vốn dựa vào ngành du lịch để phát triển. Các nhà tranh đấu cho quyền của giới đồng tính nam bắt đầu hoạch định những hành động trả đũa, chỉ sau vài giờ bà Lingle thông báo quyết định này. Trên diễn đàn Internet, nhiều người tỏ ra tức giận và kêu gọi nhau đừng đi du lịch đến “tiểu bang Aloha” này nữa, và có ít nhất hai blogger đã kêu gọi mở cuộc tẩy chay. * Lịch sử vấn đề người đồng tính Bối cảnh: Tại Hoa Kỳ, ngay từ thế kỷ 20, đã có nhiều nhóm hoạt động bí mật để tranh đấu cho quyền lợi của giới đồng tính, nhưng ít được ai biết đến. Nhóm Society for Human Rights của Henry Gerber - thành lập tại Chicago vào năm 1924 - chẳng bao lâu đã bị cấm hoạt động. Gerber là người đã tình nguyện nhập ngũ sang chiến đấu tại phần đất nước Đức bị chiếm đóng sau Đệ Nhất Thế Chiến. Gerber đã đọc được những tác phẩm đầu tiên của bác sĩ Magnus Hirschfeld - vốn là một người đồng tính. Khi trở về Hoa Kỳ và sinh sống tại Chicago, Gerber đã thành lập tổ chức đồng tính công khai đầu tiên tại Mỹ, và xuất bản hai số báo Friendship and Freedom đồng tính nam đầu tiên. Rồi đến năm 1948, giáo sư sinh vật học Alfred Kinsey xuất bản tác phẩm Sexual Behavior in the Human Male, nghiên cứu về đề tài tính dục một cách khoa học. Theo giáo sư Kinsey, có tới 10% dân số người nam trưởng thành (và khoảng 50% phía nữ giới) đều hoàn toàn hay phần lớn thuộc vào giới đồng tính ít nhất trong thời gian 3 năm trong cuộc đời. Trước khi ông xuất bản cuốn sách này, bình thường vấn đề đồng tính luyến ái không thấy ai đem ra bàn cãi; nhưng sau đó, đề tài này bắt đầu xuất hiện ngay trong các tác phẩm dòng chính, như trên tạp chí Time hay Life và các báo khác. Vào cuối thập niên 1940 và 1960, một số chương trình truyền hình và truyền thanh đều chú ý vào vấn đề đồng tính, với một số phim ảnh có các nhân vật đồng tính đóng trong phim. Thời kỳ này có nhiều tổ chức khác như Mattachine Society, Daughters of Bilitis và Society for Individual Rights, đều thi nhau vận động cho quyền lợi của các thành phần đồng tính - luỡng tính - chuyển tính (LGBT). Năm 1958, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã phán rằng việc tạp chí ONE viết về đồng tính nam không có gì là khiêu dâm, tục tĩu và được Tu Chánh Án số 1 bảo vệ hậu thuẫn. Tòa Tối Cao California cũng theo gót, bảo vệ cho các phim tình dục đồng tính của Kenneth Angers như Fireworks, và Illinois chính là tiểu bang đầu tiên công nhận tính dục đồng tính giữa những người thành niên. Phong trào Giải Phóng Đồng Tính (Gay Liberation): Vào cuối thập niên 1960, xuất hiện triết lý giải phóng xã hội, với một thế hệ trẻ gồm những người đồng tính nam và nữ. Họ đã tạo ra một phong trào tranh đấu phá vỡ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính, và chủ nghĩa đế quốc tây phương. Phong trào này đã dẫn tới vụ bạo loạn nổ ra vào sáng sớm ngày 28-6-1969, khi những người đồng tính nổi loạn chống lại sự đàn áp của cảnh sát bố ráp tại quán Stone Inn khu lân cận thành phố New York. Đây là biến cố đầu tiên, mà tập thể người đồng tính đã công khai chống lại chính phủ, mở đầu cho phong trào tranh đấu cho quyền lợi người đồng tính tại Hoa Kỳ và trên toàn cầu. Sự di dân của người đồng tính: Vào cuối thập niên 1970, nhiều nguời đồng tính nam đã di chuyển đến thành phố San Francisco. Cùng thời kỳ đó, Harvey Milk - một người đồng tính nam - được bầu vào Ủy Ban Giám Sát Thành Phố, tương tự như Hội Đồng Thành Phố tại các đô thị. Nhưng vào năm 1978, Milk đã bị ám sát cùng với ông Thị Trưởng là George Moscone. Ngày 14-10-1979, một cuộc diễn hành toàn quốc đã diễn ra tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, với sự tham dự của khoảng 100.000 người. * Các đạo luật dân quyền Hoa Kỳ là một quốc gia theo hệ thống liên bang, hơn nữa dư luận người Mỹ có nhiều quan điểm khác nhau về quyền lợi của người đồng tính, do đó cho đến nay, các đạo luật về dân quyền cho giới đồng tính chỉ có tính cách chắp vá tạm thời. Ở cấp liên bang, chính phủ vẫn chưa có sự công nhận chính thức về các vụ kết hôn đồng tính và cũng chưa có đạo luật nào cấm kỳ thị việc làm với người đồng tính. Hiện nay chỉ mới có 5 tiểu bang và thủ đô Hoa Thịnh Đốn công nhận hôn nhân giữa người đồng tính: Massachusetts, Connecticut, Iowa, Vermont, New Hampshire và District of Columbia. Luật gia đình: Năm 1972, Tòa Tối Cao tiểu bang Minnesota - trong vụ Baker v. Nelson - đã phán rằng, luật tiểu bang cấm các cuộc hôn nhân đồng tính, không vi phạm Tu Chánh Án số 14 của Hiến Pháp Hoa Kỳ. Đến năm 1993, cuộc tranh luận lại tiếp diễn khi Tòa Tối Cao Hawaii phán rằng hiến pháp tiểu bang cấm kỳ thị giới tính, có nghĩa là các cặp vợ chồng đồng tính có quyền được cấp hôn thú dân sự, trừ phi tiểu bang chứng minh được bằng chứng tòa liên bang đã nghiên cứu kỹ lưỡng tỉ mỉ về luật này (compelling state interest), xem có vi phạm Tu Chính Án thứ 5 và thứ 14 của Hiến Pháp hay không. Tiếp theo, một tòa án cấp dưới tại Hawaii khám phá ra tiểu bang không xuất trình được bằng chứng này, do đó hôn nhân đồng tính tại đây được xem là hợp pháp chỉ trong một ngày. Sau đó, vị quan tòa giữ nguyên phán quyết cũ và hiến pháp tiểu bang được tu chính lại vào năm 1998, cho phép cơ quan lập pháp giới hạn hôn nhân, chỉ được công nhận đối với các cặp vợ chồng khác biệt giới tính. Trên thực tế, các biến cố xảy ra tại Hawaii không đem lại được quyền lợi gì cho các cặp đồng tính, mà chỉ khiến cho Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật bảo vệ hôn nhân Defense of Marriage Act (DOMA). Ngày 7-5-1996, các Dân biểu Bob Barr (Georgia), Steve Largent (Oklahoma), Jim Sensenbrenner (Wisconsin), Sue Myrick (North Carolina), Ed Bryant (Tennessee), Bill Emerson, Harold Volkmer và Ike Skelton (cả ba thuộc Missouri), đệ trình DOMA lên Hạ Viện Hoa Kỳ. Đạo luật này nhắm vào hai điều: thứ nhất, không bắt buộc một tiểu bang nào phải tôn trọng hiệu lực đạo luật của một tiểu bang khác về hôn nhân đồng tính; thứ hai, định nghĩa danh từ “hôn nhân” và “chồng/vợ”, dựa theo luật liên bang, có nghĩa là nguời có giới tính đối lại. Do đó, các quyền lợi và trách nhiệm hôn nhân qui định tại luật liên bang, không thể đem áp dụng trong các cuộc kết hôn đồng tính. Theo luật liên bang từ hơn hai thế kỷ nay, một cuộc hôn nhân có nghĩa là sự kết hôn hợp pháp giữa một người đàn ông và một phụ nữ được gọi là giữa chồng và vợ, và người phối ngẫu có nghĩa là người chồng hay vợ của người có giới tính ngược lại. Các tiểu bang ủng hộ hôn nhân đồng tính: Vermont: Năm 1999, trong vụ kiện Baker v. Vermont, Tòa Tối Cao tại Vermont phán quyết rằng, tiểu bang phải dành mọi phúc lợi và trách nhiệm cho các cặp vợ chồng đồng tính, y hệt như trong trường hợp hôn nhân dân sự, do đó quốc hội tiểu bang đã đưa ra một dự luật về kết hôn dân sự. Đến năm 2007, các nghị sĩ đưa ra một dự luật thừa nhận hôn nhân đồng tính và được quốc hội phê chuẩn, nhưng lại bị vị thống đốc phủ quyết. Tuy nhiên cơ quan lập pháp không chấp nhận sự phủ quyết này, và đạo luật này đã có hiệu lực kể từ ngày 1-9-2009. Massachusetts: Năm 2004, trong vụ Goodrige v. Department of Public Health, Tòa Tối Cao Massachusetts đã tuyên phán thừa nhận hôn nhân đồng tính tại tiểu bang này. Iowa: Vào năm 2007, một tòa án tại Iowa phán rằng, việc hạn chế hôn nhân chỉ được công nhận giữa các cặp vợ chồng khác giới tính là một sự kỳ thị. Tuy nhiên tiểu bang có thể kháng án lên tòa trên. Và đến năm 2009, Tòa Tối Cao tại Iowa đã hoàn toàn ủng hộ phán quyết của tòa dưới, do đó các cuộc hôn nhân đồng tính đều được cấp hôn thú kể từ ngày 24-4-2009. Ngoài ra, các cơ quan lập pháp tại các tiểu bang khác như Colorado (2009), Maine (2004), Connecticut (2005), California (1999), Wisconsin (2009), Nevada (2009), New Jersey (2007), Washington (2007), New Hampshire (2008), Oregon (2008), Maryland (2008), và Thủ đô Hoa Thịnh Đốn (2002), đều cho phép có những cuộc kết hôn dân sự hay sống chung giữa nguời đồng tính. Khuynh hướng chống đối hôn nhân đồng tính: Tiếp theo đạo luật DOMA do Quốc Hội Hoa Kỳ ban hành, sau đó nhiều tiểu bang cũng nối gót ban hành các đạo luật tương tự áp dụng cho các vụ kết hôn giữa ngưôøi cùng giới tính. Trong chu kỳ bầu cử năm 2004, khuynh hướng chống đối hôn nhân đồng tính đã hiện rõ, khi có tới 14 tiểu bang đã tu chính lại hiến pháp, cấm thừa nhận các cuộc hôn nhân hay kết hôn dân sự đồng tính. Tại tiểu bang Mississippi, số cử tri đi bỏ phiếu để tu chính hiến pháp từ 86% đến 14% - cấm hôn nhân đồng tính và cấm tiểu bang thừa nhận các cuộc hôn nhân đồng tính được xem là hợp pháp từ nơi khác đến. Luật lệ tại các tiểu bang như Virginia, Michigan, Nebraska, Ohio, đều cấm thừa nhận bất cứ phúc lợi nào dành cho các cặp hôn nhân đồng tính. Tại Hoa Kỳ, thành phần chống lại phong trào đồng tính thông thường là tầng lớp dân chúng bảo thủ. Tùy theo từng vùng, nói chung tại miền Nam Hoa Kỳ và vùng thôn quê, khuynh hướng chống đối giới đồng tính mạnh mẽ. * Các quyết định quan trọng của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ Năm 1958, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ lật ngược một phán quyết của tòa dưới và như vậy đã đặt ra một tiền lệ, là sách báo xuất bản của người đồng tính thực ra không có gì là khiêu dâm. Ngày 22-5-1967, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ ủng hộ đạo luật Immigration and Nationality Act of 1952, trong đó cấm hôn nhân đồng tính, coi đó là hợp hiến. Việc cấm đoán này có hiệu lực tới năm 1991. Năm 1972, một giáo viên tên là Gaylord tại thành phố Tacoma, Washington dạy học có lý lịch rất tốt trong 12 năm, bỗng dưng bị cho nghỉ việc, sau khi ông ta bị một học trò cũ tố cáo với ông Phó Hiệu trưởng rằng, ông thầy này là người đồng tính. Tòa Tối Cao tiểu bang Washington nhận thấy đồng tính là trái đạo đức, nên cho rằng ông Gaylord không đủ tư cách làm thầy giáo nữa. Đây là quyết định kỳ thị đồng tính đầu tiên được truyền bá trên mạng lưới truyền thông toàn quốc. Năm 1985, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã không thụ lý vụ trường Đại học A&M University tại Texas, kháng án về một phán quyết của tòa án bắt trường này phải thừa nhận một tổ chức sinh viên đồng tính. Vụ này đã đặt ra một tiền lệ trong toàn quốc, không cấm việc tổ chức các nhóm sinh viên đồng tính tại các khu đại học nữa. Ngày 30-6-1986, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ – trong vụ Bowers v. Harwick – đã phán quyết rằng quyền riêng tư của giới đồng tính không bảo vệ. Ngày 20-5-1996, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ – trong vụ Romer v. Evan - phán quyết chống lại một tu chính án hiến pháp của tiểu bang Colorado, không cho bất cứ một thành phố hay quận hạt nào trong tiểu bang, được dùng bất cứ hành động lập pháp, hành pháp hay tư pháp nào, để che chở bảo vệ cho các công dân đồng tính, khỏi bị kỳ thị về định hướng giới tính của họ. Ngày 4-3-1998, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ – trong vụ Oncale v. Sundowner Offshore Services – phán quyết rằng, luật liên bang cấm quấy nhiễu tình dục khi đang huấn luyện việc làm, luật này áp dụng cho cả hai bên khi họ cùng một giới tính. Ngày 28-6-2000, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ phán quyết rằng tổ chức Boy Scouts of America có quyền – theo Tu Chánh Án thứ nhất – loại trừ người ra khỏi tổ chức của họ, dựa vào định hướng giới tính, không kể đến bất cứ một dân luật nào khác. Ngày 26-6-2003, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ - trong vụ Lawrence v. Texas - đã phán rằng, luật lệ chống lại việc kê gian hay thú dâm (sodomy), không thể áp dụng cho giới đồng tính; vả lại, việc hai bên thỏa thuận tính dục riêng tư là một phần tự do được Tu Chánh Án thứ 14 bảo vệ.













![[site-slogan] [site-slogan]](http://vnusbiz.net/news/sites/default/files/imagecache/tdiem/images/articles/4806252.jpg)
![[site-slogan] [site-slogan]](http://vnusbiz.net/news/sites/default/files/imagecache/tdiem/images/articles/4804677.jpg)
Gửi bình luận
Bình luận